THÔNG TIN TUYỂN SINH

HỢP TÁC ĐÀO TẠO

Chuyên gia thỉnh giảng

Liên kết Website

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

Ngày 24 tháng 9 năm 1979 Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 347-CP về việc tổ chức hệ thống các trường quản lý Hợp tác xã nông nghiệp. Quyết định do quyền Thủ tướng Chính phủ Lê Thanh Nghị ký. Bản Quyết định ghi rõ: “Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ số 61-CP ngày 5 tháng 6 năm 1976 về cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến một bước quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp từ cơ sở theo hướng tiến lên xã hội chủ nghĩa.

Tại Điều 1 của Quyết định ghi rõ “Nay thành lập Trường quản lý Hợp tác xã nông nghiệp Trung ương đặt trực thuộc Bộ Nông nghiệp (có phân hiệu ở một số địa phương do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp quyết định”. Trường quản lý Hợp tác xã nông nghiệp Trung ương có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý Hợp tác xã và cán bộ làm công tác giảng dạy ở các trường quản lý Hợp tác xã nông nghiệp tỉnh, huyện và tương đương”.

Lực lượng giáo viên của Trường lúc này rất mỏng, việc thu thập tư liệu, biên soạn bài giảng và tiến hành mở lớp phải dựa vào lực lượng cán bộ, chuyên viên của ban Quản lý hợp tác xã nông nghiệp trung ương.Khi mới thành lập, Trường do ông Dương Quốc Cẩm – Trưởng ban Quản lý Hợp tác xã nông nghiệp Trung ương làm Hiệu trưởng. Ông Vương Lự – Phó Ban quản lý hợp tác xã nông nghiệp trung ương làm Hiệu phó. Trường có trụ sở tại xã An Châu huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Hưng (nay là Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Cơ sở vật chất kỹ thuật của Trường cũng rất nghèo nàn việc mở lớp phải dựa vào cơ sở vật chất của các tỉnh hoặc các huyện.

Tháng 12 năm 1982 Bộ Nông nghiệp ra Quyết định sát nhập Trường Quản lý hợp tác xã nông nghiệp trung ương với Trường Bổ túc văn hóa Bộ Nông nghiệp, lấy trụ sở của Trường Bổ túc văn hóa tại thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình làm trụ sở mới của Trường. Tên của trường vẫn là Trường Quản lý hợp tác xã nông nghiệp trung ương. Lúc này Trường tách khỏi Ban Quản lý hợp tác xã nông nghiệp trung ương. Ông Đoàn Văn Lãi nguyên phó Ban cải tạo nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long được Bộ điều về làm Hiệu phó, phụ trách trường. Ông Phan Bá Hùng – Quyền Hiệu trưởng trường Bổ túc văn hóa nhận quyết định làm Phó Hiệu trưởng.

Tháng 12 năm 1984 trước đòi hỏi của thực tiễn, căn cứ Nghị quyết số 15CP ngày 17/01/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế, ngày 12 tháng 12 năm 1984 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 416-CP về việc “chuyển Trường Quản lý Hợp tác xã nông nghiệp Trung ương thành Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiêp” Quyết định do Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Tố Hữu ký. Quyết định nêu rõ: “Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp có nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế của ngành, bao gồm: các cán bộ lãnh đạo và quản lý của các cơ sở sản xuất, các cán bộ quản lý, chỉ đạo sản xuất của các cơ quan nông nghiệp địa phương và của Bộ Nông nghiệp”.Năm 1983 toàn thể cán bộ, thiết bị, tài liệu của cơ sở Nam Thanh được chuyển về Tam Điệp. Cũng trong năm 1983 Bộ Nông nghiệp cử ông Nguyễn Xuân Cầu nguyên Hiệu trưởng trường Trung cấp trồng trọt Sông Lô sau khi hoàn thành chương trình đào tạo cán bộ tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc về làm Hiệu trưởng. Hệ bổ túc văn hóa ngừng tuyển sinh, Thời kỳ này nhà trường phải hoàn thành nốt chương trình cho học sinh bổ túc văn hóa và ôn luyện để học sinh sau khi tốt nghiệp thi vào các Trường Đại học và Trung cấp kỹ thuật, trung cấp nghiệp vụ của ngành. Nhà trường đồng thời phải mở các lớp tập huấn triển khai chỉ thị 100 và khoán sản phẩm cho cán bộ quản lý hợp tác xã và phối hợp với ban Quản lý Nông trường của Bộ tổ chức một số lớp tập huấn cho cán bộ của các nông trường.

Nếu coi Quyết định 347- CP ngày 24 tháng 9 năm 1979 của Hội đồng chính phủ là Giấy khai sinh của Trường thì Quyết định 416 ngày 12 tháng 12 năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng là một mốc son lịch sử. Quyết định 416-CP đã tạo ra “cơ hội vàng” cho nhà trường. Những quy định về nhiệm vụ và địa điểm của trường đã tạo ra bệ phóng vững chắc cho những bước phát triển tiếp theo của nhà trường.

Thực hiện Quyết định số 416-CP của Hội đồng bộ trưởng, ngày 12 tháng 01 năm 1985 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nguyễn Ngọc Trìu đã ra quyết định cấp đất cho Trường ở xã Vĩnh Quỳnh – Thanh Trì – Hà Nội.

Đầu năm 1986 Nhà trường bàn giao cơ sở cũ ở Tam Điệp – Ninh Bình cho Trường Trung học cơ khí nông nghiệp trung ương.

Đặc biệt sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12 năm 1986, Nhà trường phải tổ chức nhiều lớp quán triệt quan điểm “đổi mới” của Đảng, đặc biệt là đổi mới tư duy kinh tế.Khi chuyển Trường ra Hà Nội cơ sở vật chất kỹ thuật của Trường gần như số không. Nhà trường phải làm các thủ tục có tính chất pháp lý và xin cấp vốn đầu tư để xây dựng trường. Mặc dù cơ sở vật chất chưa có gì nhưng việc mở lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý nông nghiệp thì không thể dừng lại. Bộ Nông nghiệp giao cho Trường tạm quản lý và sử dụng cơ sở điều dưỡng cũ của Bộ ở xã Cổ Nhuế huyện Từ Liêm để mở lớp.

Cuối 1989 sau khi Nhà trường xây xong hội trường lớn, 01 ký túc xá 3 tầng, 01 nhà ăn tập thể, 01 dãy nhà cấp 4 để làm việc và một số gian nhà tạm cho cán bộ công nhân viên cư trú thì Nhà trường bàn giao cơ sở Viện điều dưỡng cho đơn vị khác, tất cả tập trung về cơ sở mới ở Thanh Trì.

Việc Hợp tác quốc tế trong giáo dục đào tạo cũng đã được thực hiện, mở đầu là thực hiện dự án nâng cao năng lực tiếp cận phương pháp giảng mới cho giáo viên các trường, dự án do WB tài trợ; tiếp theo là dự án đào tạo chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp do tổ chức JICA của Nhật Bản tài trợ, dự án nâng cao năng lực của 2 trường quản lý nông nghiệp do Canada tài trợ đã được thực hiện.Từ 1990 một thời kỳ mới bắt đầu; Song song với nhiệm vụ bồi dưỡng, Nhà trường mở rộng đối tượng và chương trình đào tạo, các khóa đào tạo giám đốc, đào tạo chủ nhiệm hợp tác xã lần lượt xuất hiện và được mở liên tiếp hết khóa này đến khóa khác. Lớp đào tạo chủ doanh nghiệp nhỏ trong nông nghiệp được thí điểm. Các lớp bồi dưỡng trưởng, phó phòng nông nghiệp huyện, phó chủ tịch phụ trách nông nghiệp của các huyện liên tiếp được mở. Một số khóa bồi dưỡng kiến thức quản lý kinh tế và quản lý chuyên ngành đã được mở tại trường, các khóa học tiếng Pháp, tiếng Trung được mở ra để phục vụ kịp thời cho cán bộ của ngành đi làm chuyên gia ở Châu Phi và Hợp tác khoa học – kỹ thuật với Đài Loan. Một số lớp tiếng Anh, tin học văn phòng được mở phục vụ yêu cầu của ngành và của xã hội…….

Năm 1996 Nhà nước sắp xếp và tổ chức lại các bộ, ngành. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra đời trên cơ sở hợp nhất 3 Bộ: Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy lợi. Bộ mới ra đời dẫn đến việc phải tổ chức lại các trường quản lý.

Tiếp đó, ngày 02 tháng 7 năm 1996 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 1029-NN-TCCB/QĐ quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn I. Quyết định do thứ trưởng thường trực Nguyễn Quang Hà ký.Ngày 17 tháng 6 năm 1996 Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số 406-TTg về việc tổ chức lại các Trường Cán bộ quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Điều 1 của Quyết định nêu rõ “Thành lập Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn I trên cơ sở sáp nhập và tổ chức lại Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp, Trường Cán bộ quản lý Lâm nghiệp (trừ phân hiệu đặt tại Sông Bé) và Trường cán bộ quản lý Thủy lợi.

Điều 2 của Quyết định nêu: Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và PTNT I có các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

  1. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, công chức, viên chức cho các cơ sở của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  2. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh và nghiệp vụ chuyên môn thuộc các thành phần kinh tế cho ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  1. Ngày 17/6/1996 cũng được coi là một mốc son lịch sử. Quyết định số 406/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã tạo nên bước nhảy vọt về chất của Nhà trường.Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khuyến nông, khuyến lâm và quản lý tài nguyên thiên nhiên, môi trường.
  2. Nghiên cứu các chương trình, đề tài về khoa học quản lý nhà nước, quản lý kinh doanh và kinh tế xã hội của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  3. Liên kết và hợp tác với các tổ chức, cơ sở đào tạo, nghiên cứu, sản xuất kinh doanh trong nước và ngoài nước.

Từ đây Nhà trường phát triển được nhiều chương trình đào tạo mới, đối tượng phục vụ và địa bàn hoạt động của Nhà trường được mở rộng, các chương trình liên kết đào tạo nở rộ. Uy tín của Nhà trường ngày càng được nâng lên.

Có thể nói giai đoạn 1996 – 2014 là thời kỳ “bùng nổ” về đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế của Trường. Hơn 35 năm xây dựng và phát triển đó với sự phong phú đa dạng về chương trình và tài liệu học tập, trong đó có nhiều chương trình và bài giảng không có sẵn. Nhà trường phải tổ chức nắm bắt thực tiễn, tìm hiểu cái yếu, cái thiếu, cái cần của người học, tham khảo sách vở, tranh thủ ý kiến của các cơ quan quản lý, xin ý kiến góp ý của các chuyên gia để xây dựng chương trình và biên soạn tài liệu giảng dạy.

Một nét đặc thù của Trường Cán bộ quản lý là nhiều học viên không thể rời xa công việc đang làm. Bên cạnh việc học tập tại trường họ vẫn canh cánh bên lòng với nỗi lo công việc ở nhà. Số học viên lưu trú tại Trường nhiều người có thu nhập cao đôi khi có những đòi hỏi cao hơn khả năng phục vụ của Trường.Về đối tượng đào tạo cũng vô cùng đa dạng, luôn có sự khác biệt về học vấn, về ngành nghề đào tạo, về nhu cầu cần tìm hiểu, về kiến thức cần được bổ sung. Có những học viên bằng cấp cao hơn cả giảng viên, giao lưu quốc tế cũng nhiều hơn giảng viên. Nhiều bài giảng cần kiến thức chuyên sâu, giảng viên của Trường không đáp ứng được, Trường phải tìm đến các viện, các cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản lý để tìm thầy, không ít trường hợp giảng viên mời có kiến thức tốt nhưng năng lực sư phạm yếu. Vì vậy việc lựa chọn giáo viên thỉnh giảng  cũng là vấn đề phải thường xuyên quan tâm của Trường Cán bộ quản lý.

Một vấn đề khác cũng cần được đề cập là song song với việc tổ chức giảng dạy và phục vụ học viên tại Trường, Nhà trường phải thường xuyên tổ chức các lớp ngoài Trường, nhiều lớp ở rất xa nên việc tổ chức, điều hành lớp, bố trí giáo viên đi giảng cũng gặp nhiều trở ngại. Người được giao nhiệm vụ thiếu kỹ năng, thiếu sáng tạo thì khó có thể hoàn thành nhiệm vụ.

Việc nhận diện và suy ngẫm về những nét đặc thù của Trường giúp chúng ta có cái nhìn khách quan và toàn diện trong việc đánh giá những thành tựu và những truyền thống của Trường.

Về truyền thống của Nhà trường trong 35 năm qua có lẽ điểm đầu tiên ai cũng phải thừa nhận là truyền thống vượt qua mọi khó khăn, thử thách để luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hai thử thách lớn nhất đối với Nhà trường là thiết kế chương trình, biên soạn tài liệu giảng dạy và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của Trường.

Điều thứ 2 có thể ghi vào trang vàng truyền thống của Nhà trường là tập thể cán bộ, giảng viên, viên chức của Nhà trường luôn có khát vọng xây dựng Trường trở thành một đơn vị vững mạnh, là một trong những cánh chim đầu đàn trong lĩnh vực đào tạo bồi dưỡng của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.Về xây dựng chương trình thời kỳ đầu thành lập Trường Quản lý hợp tác xã Nông nghiệp Trung ương (sau này là Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp); Trường Bồi dưỡng  cán bộ quản lý kinh tế Lâm nghiệp (sau này là Trường Cán bộ quản lý Lâm nghiệp); Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thủy lợi (sau là Trường cán bộ quản lý Thủy lợi). Số chương trình tự xây dựng có thể  đếm được trên đầu ngón tay, nhiều chương trình đào tạo phải dựa vào trường bạn hoặc cơ quan quản lý. Ngày nay Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn I đã có trên 30 bộ chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác nhau, trong đó có khoảng trên 2/3 do Nhà trường tự xây dựng và cùng với nó là những tài liệu giảng dạy do giảng viên Nhà trường biên soạn. Với những khó khăn trên những năm đầu các trường chỉ thu sinh được trên dưới một ngàn người một năm, những năm gần đây con số thu sinh và hoàn thành khóa học hàng năm đều trên mười ngàn người. Đỉnh cao là năm 2012, Trường tổ chức tới 256 lớp với số lượng học viên lên tới 16.459 người. Tinh thần vượt khó còn thể hiện ở chỗ khắc phục sự khó khăn thiếu thốn về cơ sở vật chất, chưa có trường lớp Nhà trường phải dựa vào địa phương và các đơn vị cơ sở để mở lớp. Vừa mở lớp, vừa xây dựng cơ sở vật chất đến nay Trường đã có được cơ ngơi khang trang. Trụ sở chính của Trường tổng số m2 xây dựng ở các hạng mục công trình lên tới gần 8000m2 với đầy đủ các phòng chức năng đáp ứng yêu cầu dạy và học. Thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập và quản lý cũng được đầu tư phong phú về chủng loại và đảm bảo yêu cầu về số lượng, cơ sở 2 ở Đông Anh cũng đáp ứng được yêu cầu của một Trung tâm đào tạo cán bộ.

Đảng ủy và Ban Giám hiệu Nhà trường luôn trăn trở xác định những bước đi của Trường sao cho phù hợp và vững chắc, luôn trân trọng những sáng kiến, kinh nghiệm của cán bộ viên chức, luôn trân trọng, kế thừa và phát huy những thành quả do lớp người đi trước để lại.

Cán bộ, giảng viên và viên chức luôn khát khao học tập, rèn luyện để tự hoàn thiện bản thân. Những ngày đầu thành lập, số kỹ sư và cử nhân các loại không nhiều, đến nay Nhà trường đã có 5 tiến sỹ, 53 thạc sỹ (chưa kể số tiến sỹ, thạc sỹ đã nghỉ hưu, chuyển công tác về đơn vị mới và 6 giảng viên đang đi làm nghiên cứu sinh).

Từ ngày đầu thành lập đến những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước giảng viên của Trường đứng trên bục giảng chỉ từ 20% đến 25% , ngày nay đã khác: giảng viên của Trường đủ sức đảm nhiệm từ 70% đến 75% số bài giảng. Số giáo viên thỉnh giảng chỉ từ 25% đến 30 %. Nhiều chương trình bồi dưỡng, giảng viên của Trường đảm nhận trên 90%, thậm chí có chương trình giảng viên của Trường đảm nhận cả 100%

Về nghiên cứu khoa học nếu như năm 1991 Nhà Trường mới đăng ký từ 1 đến 2 đề tài cấp Bộ, đến nay hàng năm Nhà trường thường hoàn thành từ 4 đến 5 đề tài cấp Bộ và 4 đến 5 đề tài cấp cơ sở.

Đội ngũ viên chức ở các bộ phận phục vụ, năm 1984 nhiều người có trình độ sơ cấp, trung cấp đến nay phần lớn đã tốt nghiệp đại học, cá biệt có người đã nhận bằng Thạc sỹ.

Bảng vàng truyền thống của Nhà trường còn được tô điểm bởi những danh hiệu, những phần thưởng cao quý được Đảng, Nhà nước và các đoàn thể từ Trung ương đến địa phương trao tặng:Một nét đẹp trong truyền thống của Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn I là truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Nhà trường hôm nay có cội nguồn từ 4 Trường hợp lại, đội ngũ cán bộ viên chức tập hợp từ 4 trường đồng thời được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau nhưng trong chiều dài lịch sử 35 năm, Trường không hề xuất hiện tình trạng cục bộ, bè phái, đấu đá lẫn nhau. Mọi người đều chuyên tâm làm tốt công việc được giao, không tỵ nạnh, luôn đặt lợi ích chung của Nhà trường lên trên hết. Trong cuộc sống thường ngày mọi người luôn thông cảm với hoàn cảnh của nhau, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ nhau khi có người gặp khó khăn, hoạn nạn.

Đảng bộ Nhà trường luôn được xếp loại “Đảng bộ trong sạch – vững mạnh”,  nhiều năm đạt “ Đảng bộ trong sạch – vững mạnh tiêu biểu”. Năm 2014 được Đảng ủy khối các cơ quan Trung ương cấp bằng khen.

Về mặt Chính quyền liên tục các năm từ 1996 đến năm 2014 Nhà trường luôn được nhận danh hiệu Trường tiên tiến xuất sắc. Năm 1997 và năm 2000 Nhà trường được nhận Cờ thi đua xuất sắc do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao tặng. Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì cũng nhiều lần tặng giấy khen cho Nhà trường.

Công đoàn Trường được Công đoàn Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng bằng khen năm 2004, được Ban chấp hành Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng bằng khen năm 2014.

Chi đoàn Thanh niên Nhà trường được Ban Chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng bằng khen năm 2012.

Về những phần thưởng cao quý được Nhà nước trao tặng gồm có:

– Bằng khen của Chính phủ trao tặng năm 2000

– Cờ thi đua xuất sắc được Chính phủ trao tặng năm 2005

– Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng ba năm 2011

35 năm qua tập thể Nhà trường đã vượt qua nhiều thử thách, nhiều gian khó để trưởng thành. Đến nay Nhà trường đã trở thành địa chỉ tin cậy của lãnh đạo Bộ, của các cơ quan, đơn vị trong ngành, là điểm đến hấp dẫn của học viên. Có thể nói tập thể lãnh đạo, giáo viên, công nhân viên chức của Nhà trường qua nhiều thế hệ đã định hình, đã tạo dựng nền tảng vững chắc của Nhà trường.Về cá nhân có 03 nhà giáo được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu “Nhà giáo ưu tú”, 05 nhà giáo được tặng thưởng huân chương lao động hạng Ba. Ngoài ra còn nhiều tập thể và cá nhân được tặng Bằng khen, Giấy khen và phần thưởng.

Năm 2014 trong khi toàn Trường đang chuẩn bị kỷ niệm 35 năm ngày thành lập, tập thể Nhà trường lại vui mừng đón nhận Quyết định 1436/QĐ-BNN-TCCB do đích thân Bộ Trưởng Cao Đức Phát ký. Từ đây nhiệm vụ và quyền hạn, quy mô đào tạo và hợp tác quốc tế của Nhà trường được mở rộng, tạo điều kiện cho Nhà trường vươn cao hơn, vươn xa hơn.

Xin nhắc lại ý tưởng của đồng chí Nguyễn Công Tạn khi đang là Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp nói về hình mẫu Trường Cán bộ quản lý  như sau:

  1. Chương trình và bài giảng vừa phải đi tắt đón đầu, vừa phải giải đáp kịp thời những đòi hỏi của cuộc sống.
  2. Giảng viên Trường Cán bộ quản lý vừa phải có năng lực nghiên cứu như một nghiên cứu viên, vừa phải là một nhà sư phạm.
  3. Phòng học và thiết bị dạy học phải hiện đại.
  4. Ký túc xá của Trường phải được trang bị và phục vụ như khách sạn.
  5. Nhà ăn tập thể phải có phong cách như một nhà hàng

Kể từ năm 1979 đến nay đã hơn 35 năm, một khoảng thời gian khá dài để đủ cho chúng ta thấy được một chặng đường mà Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn I đã đi, để các thế hệ ngẫm nghĩ về những trải nghiệm qua năm tháng giảng dạy. Có biết bao nhiêu văn hoa, mỹ từ ca ngợi và tôn vinh về nghề dạy học. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định “ Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý”. Đây là khẳng định mang tính lịch sử, truyền thống, bản chất của con người và giáo giới Việt Nam. Truyền thống “ Uống nước nhớ nguồn”, “ Tôn sư trọng đạo” đã trở thành đạo lý cao cả, thiêng liêng thấm sâu vào trong nhận thức, tình cảm của của mỗi người dân Việt Nam.
www.imard.edu.vn